Ngành ô tô Việt Nam sau cả chục năm thực hiện chiến lược với mục tiêu được vẽ là "nội địa hóa" giờ có vẻ như bế tắc. Lối thoát nào...?
Mặc dù đã có quy hoạch phát triển và các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về thuế, nhưng đến nay, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phát triển không như mong đợi.
Các doanh nghiệp không chú trọng nội địa hóa như đã cam kết để được hưởng ưu đãi, mà chỉ thực hiện việc lắp ráp giản đơn và từng bước chuyển dịch sang nhập khẩu xe nguyên chiếc kinh doanh.
Lỗ do chính sách?
Theo Bộ Công Thương, đến nay xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đã đáp ứng được 68% nhu cầu, trong đó xe khách đáp ứng được 94%, xe tải đáp ứng 74%. Tuy nhiên, tính chung tỉ lệ nội địa hóa của tất cả doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước vào thời điểm hiện nay đều không đạt mục tiêu đề ra so với con số cam kết. Cụ thể, dòng xe dưới 9 chỗ, tỉ lệ nội địa hóa dưới 15% trong khi quy hoạch đề ra 50%; tỉ lệ nội địa hóa ở xe khách trên 10 chỗ, xe tải, xe chuyên dùng đạt 30 - 40%, trong khi theo quy hoạch là 60%. Honda Việt Nam là doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa cao nhất song cũng chỉ chiếm gần 10%, Toyota 7%, Suzuki 3%, Ford 2%...
Lý giải về tỷ lệ nội địa hóa thấp, Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách công nghiệp (Bộ Công Thương) Phan Đăng Tuất cho rằng một trong những nhược điểm của công nghiệp Việt Nam là chưa phát triển được ngành công nghiệp hỗ trợ. Đến nay, ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam quy mô sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra chủ yếu là các linh kiện giản đơn như thùng xe, ghế ngồi, bàn đạp chân phanh, chân ga, săm lốp, ắc quy, ăng ten, dây điện, nhíp lá... Trong khi đó, để hình thành một chiếc ô tô phải cần tới 200.000 đến 30.000 chi tiết và hàng nghìn nhà cung cấp linh kiện phụ trợ, nhưng hiện tại ở Việt Nam chưa có doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô nào có được 20 nhà cung cấp linh kiện trong nước. Do đó, các nhà sản xuất lắp ráp ô tô trong nước buộc phải nhập khẩu linh kiện từ các thị trường vệ tinh bên ngoài khiến cho giá thành sản xuất một chiếc xe cao hơn so với các nước trong khu vực.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cũng cho rằng, thị trường ô tô Việt Nam chưa đủ lớn và đặc biệt là sự thiếu đồng bộ về chủ trương, chính sách là nguyên nhân quan trọng khiến công nghiệp ô tô Việt Nam không phát triển. Việt Nam muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô nhưng lại có hàng loạt chính sách để hạn chế sự gia tăng của phương tiện giao thông cá nhân và đặc biệt là các chính sách thuế linh kiện thường xuyên thay đổi, làm nản lòng các nhà đầu tư. Có thể nhận thấy rằng, trong thời gian dài vừa qua, việc ưu đãi chủ yếu về các chính sách thuế chưa được phát huy tác dụng. Và việc ưu đãi thuế để đổi lấy cam kết tăng cường nội địa hóa xem ra không thể thực hiện được.
Dẫn chứng về ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, Phó Chủ tịch Tổ chức thương mại Nhật Bản (JETRO) Takezo Yanagida cho biết những năm gần đây, tỷ lệ đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam tăng cao hơn các nước trong khu vực, nhưng vấn đề gặp phải là khó khăn trong tìm kiếm linh phụ kiện được sản xuất tại chỗ. Theo điều tra của JETRO, tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất linh kiện ở Việt Nam thấp hơn các nước ở Đông Nam Á, vì vậy các nhà chế tạo Nhật Bản tại Việt Nam phải nhập linh kiện từ các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sự cạnh tranh về mặt xuất khẩu của các sản xuất thành phẩm mà còn ảnh hưởng tới lợi nhuận thương mại của Việt Nam. Ngoài ra, việc không tự sản xuất được phụ tùng, nguyên liệu còn khiến cho các nhà sản xuất tại Việt Nam gặp khó khăn rất lớn trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm với mức giá cạnh tranh. Chính vì thế, lợi thế sản xuất rẻ tại Việt Nam nhanh chóng mất đi. Đặc biệt, vào năm 2015, khi hoàn toàn gỡ bỏ rào cản thuế quan với các nước ASEAN, rất có thể các nhà đầu tư sẽ lựa chọn điểm đến khác và Việt Nam có nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ hàng nhập khẩu thuần túy.
Mấu chốt vẫn là vấn đề nội địa hoá
Các chuyên gia trong ngành cho rằng, để ngành công nghiệp ô tô phát triển, mấu chốt vẫn là vấn đề nội địa hoá. Thực tế, những năm gần đây, mỗi năm có hàng loạt triển lãm trong nước và quốc tế về công nghiệp phụ trợ được tổ chức và được xem là cơ hội cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phát triển, nhưng xem ra vẫn "dậm chân tại chỗ".
Tại hội thảo Công nghiệp chế tạo và công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vừa tổ chức ở Hà Nội, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ hàng loạt doanh nghiệp FDI rút khỏi Việt Nam. Theo ông Lộc, nhiều ngành công nghiệp hiện nay đã lệ thuộc đến 80% nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu. Nếu không tiếp cận được nguồn cung tại chỗ, theo lộ trình giảm thuế trong khuôn khổ hợp tác mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc thì họ sẽ chuyển đến sản xuất ở những nước có ngành công nghiệp phụ trợ tốt hơn. Thời gian vừa qua cũng đã chứng kiến sự rời bỏ thị trường Việt Nam của những doanh nghiệp FDI lớn để chuyển tới những nơi gần vùng nguyên liệu hơn.
Một số liên doanh lắp ráp ô tô ở Việt Nam cũng cho biết ngoài câu chuyện công nghiệp hỗ trợ, với mức thuế như hiện tại, chênh lệch giữa thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc (60 - 80%) và các linh kiện lắp ráp (20 - 30%) khá lớn, nên Việt Nam đang thật sự thu hút được lượng ô tô lắp ráp tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo cam kết gia nhập vào WTO, sau 7 đến 8 năm Việt Nam phải đưa thuế suất của ô tô về mức thấp hơn hiện tại đến hơn 30%, hay nói cách khác là khoảng 45%. Khi thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc tại Việt Nam chỉ còn khoảng 45% và thuế nhập khẩu linh kiện vẫn ở mức 20-30% cộng với chi phí lắp ráp, vận chuyển thì chênh lệch giá giữa ô tô trong nước và nhập khẩu sẽ không đáng kể. Do đó, các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô trong nước cho rằng đến năm 2015 tỷ lệ nội địa hóa không đạt được khoảng 60% và không còn nhiều ưu đãi, nhiều nguy cơ các doanh nghiệp này sẽ cân nhắc có tiếp tục sản xuất hay chỉ làm nhiệm vụ phân phối xe nhập khẩu hoặc chuyển đến quốc gia khác gần nguồn nguyên liệu hơn.
Một minh chứng cho điều này là gần đây, một số công ty mẹ đã công bố độc quyền việc phân phối xe ở một số thị trường, trong đó có Việt Nam. Tháng 10/2011, Toyota Motor Corp. (TMC) gửi văn bản tới các cơ quan chức năng khẳng định chỉ ủy quyền nhập khẩu và bán hàng với thương hiệu Toyota do TMC sở hữu trên toàn cầu cho duy nhất Công ty Toyota Việt Nam. Tương tự, trước đây Mercedes - Benz Việt Nam cũng công bố đã nhận được giấy phép nhập khẩu ô tô nguyên chiếc (CBU) từ nguồn chính hãng từ Đức và giới thiệu đầy đủ các sản phẩm cùng với các dịch vụ hậu mãi, phụ tùng thay thế do các đại lý Autohaus của Mercedes-Benz cung cấp.
Tại cuộc hội thảo tham vấn ý kiến các hiệp hội và ngành hàng về các hiệp định thương mại trong thời gian tới do Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế tổ chức mới đây, Phó Tổng giám đốc Công ty Toyota Việt Nam Đặng Phan Thu Hương cho biết: vừa nhận được một bản dự thảo về nhóm các mặt hàng được cắt giảm và xóa bỏ thuế quan vào năm 2012 (giảm thuế suất xuống mức 0 - 5%), trong đó có ô tô nhập khẩu nguyên chiếc. Theo bà Hương, theo lộ trình thì đến năm 2018, ô tô mới là mặt hàng nhập khẩu được xóa bỏ thuế quan (thuế suất 0%). Nhưng bản dự thảo về nhóm các mặt hàng được cắt giảm và xóa bỏ thuế quan vào năm 2012 lại có mặt hàng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc. Nếu bản dự thảo này được thông qua, không chỉ Toyota mà các doanh nghiệp thành viên VAMA sẽ phải đóng cửa. Do đó, Toyota cũng như các doanh nghiệp thành viên VAMA đề nghị giữ nguyên thời điểm 2018, đồng thời đề nghị Chính phủ cần có lộ trình cụ thể để doanh nghiệp có thời gian, từng bước thực hiện.
(Theo tamnhin.net)