Con đường phục hồi tốt hơn
“Ngay khi bạn bắt đầu nghĩ về tăng trưởng, sẽ thật khó để nghĩ về bất kỳ điều gì khác”, Robert Lucas, nhà kinh tế học đạt giải Nobel, cho biết. Bằng lối nói hoa mỹ, các nhà hoạch định chính sách thế giới thực sự đang nghĩ về những điều khác.
Trong 9 trang thông báo đưa ra sau cuộc họp hồi tháng 6 của lãnh đạo nhóm G-20 ở Toronto, từ “tăng trưởng” được đề cập đến 29 lần. Tổng thống Mỹ Obama cho biết chính sách kinh tế của Mỹ hoàn toàn “đặt nền móng cho tăng trường dài hạn”.
Thủ tướng Anh, David Cameron, sử dụng bài phát biểu đầu tiên của ông ở văn phòng để trình bày “chiến lược cho tăng trưởng kinh tế”.
Cũng trong tháng 6, Chính phủ Nhật Bản công bố “chiến lược mới về tăng trưởng” kéo dài 10 năm.
Nhiệm vụ thực sự to lớn. Sự phục hồi của thế giới giàu có đang mất đi động lực, thậm chí tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao đáng lo ngại. Sự tăng trưởng chậm lại diễn ra rõ ràng nhất ở Mỹ khi tăng trưởng GDP giảm còn 1,6% trong quý II, và dường như tiếp tục trì trệ trong thời gian tới. Thị trường nhà đất lại ảm đạm và tốc độ tạo việc làm vẫn còn quá chậm.
Dẫn đầu với sự gia tăng GDP của Đức, khu vực đồng euro ở vào tình trạng tương đối tốt hơn trong nửa đầu năm 2010, nhưng do tác động ngược của thương mại toàn cầu vốn vẫn đang ảm đạm, nền kinh tế dựa vào xuất khẩu của Đức một lần nữa tăng trưởng chậm lại. Số liệu mới nhất của Đức cho thấy lòng tin của nhà đầu tư dường như giảm nhiều so với đầu năm. Nền kinh tế Nhật Bản cũng vậy, đang yếu dần với lý do tương tự.
Dự báo hồi tháng 9 của OECD cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của nhóm G7 - nhóm các nước giầu - sẽ giảm còn 1,5% trong nửa cuối năm nay - giảm 1 điểm phần trăm so với dự báo hồi tháng 5 trước đó. Các nhà phân tích kém lạc quan hơn bày tỏ mối lo ngại về cuộc suy thoái kép. Thậm chí cả những người lạc quan cũng không còn mong chờ điều gì ngoài sự tăng trưởng chậm chạp trong năm 2011.
|

|
| Không quá nhiều hi vọng vào mức tăng trưởng. Mức dự báo tháng 9 tụt giảm so với tháng 3 với hầu hết các thị trường. |
Nhìn xa hơn nữa, đến giữa thập niên này, bức tranh vẫn ảm đạm, ban đầu do các khoản nợ và sau đó do tình trạng dân số già đi sẽ ảnh hưởng nặng nề đến triển vọng của thế giới giàu.
Hậu quả của sự đổ vỡ tài chính sẽ là gánh nặng đối với chi tiêu tư nhân trong nhiều năm nữa khi hệ thống ngân hàng cần thời gian để phục hồi, và các hộ gia đình và các công ty phải thanh toán các khoản nợ. Thậm chí ở Mỹ, nơi các hộ gia đình đang thoát ra khỏi tình trạng nguy hiểm nhanh hơn bất kỳ nơi nào, mọi chuyện cũng mới chỉ đi được nửa đường.
Theo kết quả phân tích của Carmen và Vincent Reinhart, GDP đầu người, tính trung bình, của thập niên sau khủng hoảng tăng chậm hơn 1%/năm so với thập niên trước. Trước cuộc khủng hoảng tài chính các nền kinh tế giàu trung bình tăng 2,5%/năm, sau đó giảm hơn 3% trong cuộc suy thoái, điều này cho thấy các nền kinh tế đó có thể tăng trưởng chưa đến 1,7%/năm trong vài năm tới.
Sự tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế tiên tiến có nghĩa là đầu tư tư nhân thấp hơn, tỷ lệ thất nghiệp cao hơn và nợ công cao hơn, toàn bộ yếu tố này sẽ tác động tiêu cực đến khả năng tăng trưởng dài hạn của các nước giàu. Đồng thời tác động tiêu cực của tình trạng dân số già hóa đối với tăng trưởng cũng sẽ dễ nhận thấy hơn, nhất là ở Châu Âu với sự gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ nữ giới trong lực lượng lao động.
Tác động của nhiều yếu tố khác nhau có thể rất to lớn. Nhiều dự đoán về hệ quả của nhân khẩu học, nợ công cao hơn và đầu tư tư nhân thấp hơn cho thấy, tốc độ tăng trưởng tiềm năng của các nền kinh tế lớn có thể giảm một nửa, từ trên 2% trước khủng hoảng xuống khoảng 1% trong vài năm tới. Thậm chí nhiều người, kể cả chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu, Jean-Claude Trichet, người hiếm khi sử dụng lối nói cường điệu, lo ngại rằng 10 năm tới có thể là “thập niên thất bại”.
Liệu các chiến lược tăng trưởng ngày nay có đủ hiệu quả để chứng minh Claude Trichet đã sai?
Có 3 lý do chính để nghi ngờ điều này. Thứ nhất, các nước giàu, tất cả, đang lệ thuộc quá nhiều vào nhu cầu nước ngoài như một nguồn thúc đẩy tăng trưởng. Thứ hai, các nước này đang gặp rủi ro do hành động quá mức và quản lý kém chương trình cắt giảm tài chính ngắn hạn. Thứ ba, hầu hết các nước giàu chú trọng quá ít đến việc cải tổ cơ cấu vốn sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ giảm nợ, giảm tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng năng suất.
Bắt đầu với mơ tưởng về nhu cầu của nước ngoài. Trong mọi phiên họp kinh tế quốc tế, luôn có cuộc hội đàm về tầm quan trọng của “tái cân bằng” mô hình nhu cầu toàn cầu.
Nền kinh tế thế giới phải giảm sự lệ thuộc vào chi tiêu của người tiêu dùng Anglo-Saxon vốn đang mắc nợ quá nhiều, và cố thuyết phục người Đức và người Nhật vốn rất tiết kiệm cũng như các công ty và hộ gia đình ở các nền kinh tế mới nổi có tốc độ tăng trưởng nhanh, đáng chú ý là Trung Quốc, chi tiêu nhiều hơn nữa.
Tuy nhiên, hiện có rất ít dấu hiệu cho thấy những nỗ lực này mang lại kết quả khả quan.
Các nước giàu trên thế giới đang bị thâm thủng như Mỹ và Anh chắc chắn muốn đẩy mạnh xuất khẩu nhằm bù đắp nhu cầu tiêu dùng nội địa đang trì trệ.
Chính quyền của Tổng thống Barrack Obama muốn tăng gấp đôi giá trị xuất khẩu trong 5 năm.
Chính phủ mới của Anh coi xúc tiến xuất khẩu là trọng tâm của chính sách đối ngoại.
Tuy nhiên, các nền kinh tế thặng dư, nhất là Đức và Nhật Bản, cũng nhất định sẽ tập trung vào thương mại. Nhật Bản gần đây đã lần đầu tiên can thiệp vào thị trường tiền tệ nhằm kiềm chế sự tăng giá của đồng yên.
Cũng chưa có nhiều dấu hiệu cho thấy sự tái cân bằng nhanh chóng đối với thế giới đang nổi. Trung Quốc, nước có dự trữ lớn nhất, phải chịu trách nhiệm chính đối với sự chuyển đổi như vậy.
Thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc giai đoạn 2008-2009 giảm mạnh, nhưng tăng trở lại trong năm nay.
Mặc dù hồi tháng 6 Chính phủ Trung Quốc cam kết cho phép chính sách đồng tiền linh hoạt hơn, nhưng đồng nhân dân tệ gần như không biến động trong những tháng gần đây.
Quan trọng hơn, sẽ mất nhiều năm để loại bỏ các rào cản cấu trúc vốn kiềm chế chi tiêu nội địa cao hơn - từ sự độc quyền của chính phủ trong nhiều lĩnh vực đến việc đánh thuế, trợ cấp và các quy định quản lý công ty vốn ủng hộ lợi nhuận hơn là mức lương.
Cũng chưa có nhiều dấu hiệu cho thấy các nền kinh tế đang nổi khác quan tâm giải quyết thâm thủng. Trong dài hạn, sự tăng trưởng nhanh hơn nhu cầu của các nước nghèo hơn sẽ mang lợi cho các nền kinh tế phát triển, nhưng việc này cũng cần có thời gian.
Sự cắt giảm nguy hiểm
Các nước giàu cũng dường như đánh giá thấp rủi ro mà việc cắt giảm tài chính gây ra cho nhu cầu nội địa.
Rõ ràng tất cả các nền kinh tế tiên tiến đang lên kế hoạch kết hợp tăng thuế với cắt giảm chi tiêu trong năm tới khi các gói kích cầu hết hiệu lực và việc củng cố ngân sách bắt đầu.
Theo IMF, những hoạt động này sẽ chiếm khoảng 1,25% GDP. Đây là việc cắt giảm tài khóa lớn nhất kể từ khi việc lưu trữ hồ sơ hiện đại bắt đầu.
Các phân tích gần đây của IMF vốn bác bỏ ý tưởng cho rằng cắt giảm tài chính sẽ thúc đẩy tăng trưởng trong ngắn hạn cho thấy rằng việc thắt chặt tài chính như vậy có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng của thế giới giàu có vốn đang rất yếu ớt thêm 1 điểm phần trăm hoặc hơn vào năm tới.
Đây có phải là sự kết hợp nhạy cảm ? Các nước mà thị trường tài chính đã mất lòng tin như Ailen hoặc Tây Ban Nha không có lựa chọn. Các nước khác phải so sánh cái giá của sự tăng trưởng chậm lại với lợi ích của sự cẩn trọng lớn hơn, nhất là giảm được rủi ro về sự gia tăng đột ngột lợi tức trái phiếu và triển vọng về khoản nợ công thấp hơn.
Nhưng điều dường như phù hợp với từng nước có thể không phù hợp với cả thế giới giàu có nói chung.
Quan trọng hơn, sự ám ảnh của các nhà hoạch định chính sách về cắt giảm thâm thủng trong ngắn hạn đã làm lệch hướng chú ý khỏi câu hỏi quan trọng hơn về cách thức thực hiện.
Một số nước đang giải quyết vấn đề này một cách đúng đắn. Ví dụ, Pháp đang đẩy mạnh cuộc cải cách lương hưu, và ở Anh ¾ việc điều chỉnh tài chính sẽ bắt đầu từ cắt giảm chi tiêu.
Tuy nhiên, Mỹ, nếu ông Barrack Obama có cách thức riêng và chính sách cắt giảm thuế cho người có thu nhập cao của ông Bush bị loại bỏ, đang hướng đến một hậu quả tồi tệ nhất có thể: tăng mức thuế đánh vào thu nhập và vốn nhưng lại không thể cắt giảm tiền lương hưu và chi phí chăm sóc y tế đang ngày một tăng.
Ở hầu hết các nước giàu kế hoạch chi tiết về cắt giảm tài chính đặc biệt tương phản với sự thiếu hụt một cách thảm hại tham vọng kinh tế vĩ mô.
Hy Lạp là nền kinh tế giàu có duy nhất đối phó với khủng hoảng bằng các cuộc cải cách sâu rộng và quyết liệt nhằm nâng cao tiềm năng năng suất.
Ở Anh việc cắt giảm chi tiêu sẽ giúp giảm vai trò của nhà nước.
Tuy nhiên sự tiến bộ ở các nước khác vẫn rất hạn chế. Tây Ban Nha lựa chọn và đi được một chặng trên con đường tiến đến tự do hóa thị trường lao động, và “chiến lược tăng trưởng” của Nhật Bản bao gồm một loạt các biện pháp tự do hóa, như cắt giảm các quy định xung quanh việc chăm sóc bệnh nhân.
Nhưng các chính trị gia của Đức lại quan tâm hơn đến việc dự báo thâm thủng hơn là bãi bỏ quy định về dịch vụ nội địa.
Và ở Mỹ cuộc thảo luận chính sách xoay quanh nhu cầu, tính khôn ngoan của gói kích cầu và chính sách cắt giảm thuế của cựu Tổng thống Bush. Hầu hết các quan chức ít khi thừa nhận rằng cuộc cải cách chính sách hạ thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư như cuộc cải tổ toàn diện chương trình đào tạo nhằm giúp chống lại tình trạng thất nghiệp trong dài hạn hoặc những nỗ lực to lớn nhằm cắt giảm nợ của hộ gia đình, có thể vẫn cần thiết.
Trường hợp kinh tế về chiến lược phát triển mà kết hợp việc cắt giảm mạnh mẽ tài chính với cải cách cơ cấu một cách hạn chế là không rõ ràng, nhất là khi nhu cầu tư nhân có thể vẫn ảm đạm.
Trong dài hạn, các cuộc cải cách nâng cao năng suất sẽ làm được nhiều hơn để tăng triển vọng tăng trưởng của thế giới giàu có so với cắt giảm tài chính ngắn hạn. Và triển vọng tăng trưởng tốt hơn sẽ, bản thân chúng, làm cho các khoản nợ của chính phủ bớt nặng nề.
Trong nghiên cứu gần đây, các nhà kinh tế học của IMF đã phân tích tác động tương ứng của giảm thâm thủng, tái cân bằng toàn cầu và cải cách cơ cấu tăng năng suất đối với triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế giàu và nhận thấy rằng đến nay cải cách cơ cấu mang lại hiệu quả tích cực nhất.
Cũng có lôgic chính trị ủng hộ việc tạo ra nhu cầu lớn hơn cùng với hành động táo bạo hơn để cải cách cơ cấu.
Câu chuyện trái ngược nhau của Thụy Điển và Nhật Bản cho thấy rằng mặc dù cuộc khủng hoảng lớn có thể mang lại cơ hội cải tổ toàn bộ nền kinh tế, nhưng thời gian dài tăng trưởng ảm đạm làm cho các cuộc cải cách cơ cấu trở nên khó khăn hơn. Cả các chính trị gia và cử tri đều đã quen với sự sụt giảm từ từ. Ở nhiều nước giàu tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao có thể dễ dàng dẫn đến các chính sách như chủ nghĩa bảo hộ vốn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng dài hạn.
Sẽ có thay đổi trong các cuộc thảo luận về tăng trưởng ở thế giới giàu có. Sự củng cố tài chính sẽ mang nhiều sắc thái hơn và cuộc cải cách chính sách cắt giảm thuế để khuyến khích đầu tư và sản xuất sẽ thậm chí khả quan hơn. Điều này đặc biệt đúng với Mỹ.
Trong một thế giới lý tưởng, các chính trị gia của Mỹ sẽ đưa ra gói cắt giảm chi tiêu trung hạn và cải cách thuế nhằm bù đắp thiếu hụt tài chính của đất nước. Nhưng vì điều đó là không thể, với lý do là Đảng Cộng hòa từ chối ủng hộ bất kỳ sự gia tăng nào về thuế và Đảng Dân chủ từ chối cắt giảm chi tiêu, phương thuốc ngắn hạn tốt nhất là mở rộng chính sách cắt giảm thuế của tổng thống Bush thêm 3 năm nữa.
Cải tổ cơ cấu của Mỹ nên tập trung vào khuyến khích hộ gia đình giảm nợ nhanh hơn và giải quyết tình trạng thất nghiệp.
Với các tiêu chuẩn của các cuộc khủng hoảng tài chính trước kia, các ngân hàng của Mỹ đã được tái cấp vốn tương đối nhanh, nhưng vẫn còn nhiều việc chưa được làm để giải quyết khoản tiền thế chấp trị giá 800 tỷ USD (chiếm khoảng 25% tổng số).
Cải cách pháp lý vốn giúp cho việc cắt giảm khoản nợ này sẽ cho phép phân phối hiệu quả hơn nguồn vốn, do vậy, thúc đẩy đầu tư. Chúng sẽ giúp giải quyết tình trạng thất nghiệp đang ở mức cao bằng cách tạo điều kiện dễ dàng hơn cho công nhân di chuyển để tìm việc làm mới.
Một chiến lược toàn diện để giải quyết tình trạng thất nghiệp cũng sẽ bao gồm cả những việc như thuê các công ty con đối với việc khó tuyển dụng và xem xét toàn bộ kế hoạch đào tạo.
Bên ngoài nước Mỹ thực hiện việc củng cố tài chính sẽ hợp lý hơn, mặc dù quy mô có thể lớn. Ở cả Châu Âu lục địa và Nhật Bản cuộc cải tổ cần tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng bằng tự do hóa thị trường lao động và dịch vụ. Các nguyên tắc kiềm chế cạnh tranh phải được loại bỏ trong các ngành từ chăm sóc sức khỏe đến giao thông đường bộ.
Danh sách việc phải làm cũng tương tự vì OECD đã dành nhiều năm chuẩn bị và so sánh tính nghiêm túc của chính sách cắt giảm thuế để khuyến khích đầu tư và sản xuất của thế giới giàu có. OECD thậm chí còn xuất bản cẩm nang hàng năm, mang tên “Vì mục đích Tăng trưởng” vốn đặt ra các ưu tiên.
Tuy nhiên, chính phủ các nước giàu nhận thấy rằng rất khó dồn hết can đảm chính trị để hành động. Cuộc suy thoái và hậu quả to lớn của nó đã mở ra cơ hội để làm tốt hơn.
Nếu thế giới giàu thực sự muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng, chính phủ các nước này phải từ bỏ sự chú trọng hạn hẹp vào nợ công và bắt đầu cuộc cải cách kinh tế sâu rộng hơn.
Ví dụ, thay vì hứa giảm một nửa thâm thủng ngân sách vào năm 2010, các nền kinh tế lớn và giàu có có thể quyết định tăng độ tuổi về hưu hoặc tự do hóa dịch vụ chuyên nghiệp. Không thể lơ là việc củng cố tài chính: đây không chỉ là ưu tiên duy nhất.
Trong kinh tế học, tăng trưởng năng suất có thể được coi là phương thuốc kỳ diệu, đặc biệt đối với các nền kinh tế tiên tiến mà dân số đang già hóa. Khi công nhân sản xuất được nhiều đơn vị sản phẩm hơn trong mỗi giờ lao động, mức sống sẽ tăng và chính phủ có nhiều hơn các nguồn lực để trả lãi các khoản nợ và hỗ trợ những người không thể làm việc. Khi thế giới giàu thoát khỏi khủng hoảng tài chính, tăng trưởng sản lượng nhanh hơn có thể giúp loại bỏ những trở ngại gây ra do tình hình nhân khẩu học bất lợi. Nhưng tăng trưởng năng suất chậm hơn có thể làm cho tình hình tồi tệ hơn.
Năng suất của công nhân phụ thuộc vào kỹ năng của họ, số vốn đầu tư vào giúp họ làm nghề nghiệp của mình, và tốc độ “cải tổ” - quá trình đưa ra những ý tưởng giúp sản xuất sản phẩm mới và quy phạm kinh doanh hiệu quả hơn. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế có thể ảnh hưởng đến những biến số này theo nhiều cách. Như báo cáo đặc biệt này tranh luận, kỹ năng của công nhân có thể mai một nếu tỷ lệ thất nghiệp dài hạn tăng. Sự sụp đổ của lĩnh vực tài chính và sự miễn cưỡng đầu tư của các doanh nghiệp bất chấp nhu cầu bất ổn cũng có thể làm giảm tốc độ hình thành vốn, trì hoãn sự nâng cấp nhà máy và việc mua công nghệ thông tin vốn giúp làm tăng hiệu suất của công nhân.
Khủng hoảng tài chính cũng có thể ảnh hưởng đến tốc độ đổi mới, mặc dù rất khó dự đoán theo cách nào. Suy thoái kinh tế có thể làm chậm lại tốc độ đổi mới khi các công ty cắt giảm ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế cũng có thể thúc đẩy tốc độ tăng hiệu suất khi nhu cầu yếu ớt buộc các công ty phải suy nghĩ lại về sản phẩm và cơ cấu giá, và các công ty yếu kém nhất bị loại khỏi cuộc chơi. Theo Alexander Field ở Đại học Santa Clara, những năm 1930 đã chứng kiến việc nâng cao hiệu suất nhanh nhất trong lịch sử nước Mỹ trong suốt quá trình tái cơ cấu quy mô lớn.
Lại cải tổ
Hầu hết mọi chính phủ trong thế giới giàu có đều có “chiến lược cải tổ” rất mới. Chính sách công nghiệp – lỗi mốt vì nhà vô địch đáng tin nhất, Nhật Bản, đã mất phương hướng vào những năm 1990 – đang quay trở lại. Nhưng hầu hết các chính sách như vậy sẽ chấm dứt việc trợ cấp cho các ngành và sản phẩm có liên quan đến người giàu. “Công nghệ xanh” là vỏ bọc yêu thích đối với những khoản trợ cấp như vậy.
Năm 2008 Pháp thành lập quỹ tài sản nhà nước (SWF) như một phần trong chiến lược đối phó với khủng hoảng tài chính; Pháp cam kết xúc tiến các dự án công nghệ sinh học, mặc dù nước này cũng bơm thêm vốn cho các nhà sản xuất thông thường đang cần tiền. Năm 2009 Anh cũng theo chân Pháp với “quỹ đầu tư chiến lược”. Người Nhật cũng quay trở lại cuộc chơi.
Tháng 6/2010, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đã công bố kế hoạch xúc tiến 5 lĩnh vực chiến lược, từ sản phẩm môi trường đến chế tạo rôbôt. Tuy nhiên, những thử nghiệm trong quá khứ với chính sách công nghiệp, từ Minitel của Pháp, một nỗ lực tạo ra mạng lưới liên lạc quốc gia do chính phủ chỉ đạo, đến các khoản trợ cấp tốn kém của Tây Ban Nha để khởi động các dự án năng lượng mặt trời, cho thấy rằng chính phủ các nước rất không giỏi trong việc lựa chọn những lĩnh vực hoặc sản phẩm hứa hẹn.
Quan trọng hơn, việc các chính trị gia gần đây tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng năng suất thông qua kích thích những đột phá công nghệ cao đã bỏ lỡ phần lớn cái thực sự thúc đẩy cải tổ: sự phổ biến quy trình kinh doanh và phương pháp quản lý tốt hơn. Hình thức cải tiến này nói chung là kết quả của áp lực cạnh tranh. Điều tốt nhất mà các chính phủ có thể làm để thúc đẩy những ý tưởng mới là “nhường đường”. Điều này đặc biệt đúng với các lĩnh vực kinh tế được điều chỉnh nhiều nhất và có khả năng cạnh tranh thấp nhất, nhất là dịch vụ.
Để hiểu tại sao cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng nhiều như vậy, hãy xem xét lịch sử gần đây về năng suất trong thế giới giàu có. Trước suy thoái, tốc độ tăng trưởng năng suất của công nhân mỗi giờ chậm dần lại. Và tốc độ tăng của “năng suất các nhân tố tổng hợp” cũng vậy. Tuy nhiên, xu hướng phổ biến này cũng đang ẩn chứa những khác biệt đáng kể.
15 năm qua tăng trưởng năng suất cơ bản của Mỹ - được điều chỉnh theo biến động của chu kỳ kinh doanh – tốt hơn hầu hết các nền kinh tế giàu có khác với biên độ rộng (xem biểu đồ 12). Năng suất mỗi giờ của công nhân tăng mạnh trong cuối những năm 1990, phần lớn là nhờ đầu tư vào máy tính và phần mềm. Ban đầu chính sự gia tăng năng suất trong lĩnh vực công nghệ tạo động lực cho tiến bộ này. Từ năm 2000 trở đi sự gia tăng hiệu suất lan rộng khắp nền kinh tế, nhất là lĩnh vực dịch vụ như bán lẻ và bán buôn, chủ yếu nhờ bản chất cạnh tranh và bãi bỏ quy định của nền kinh tế Mỹ. Những tiến bộ thực sự phi thường, mặc dù chúng bắt đầu chậm lại từ giữa thập niên.
Lịch sử mới đây về năng suất ở Châu Âu là hình ảnh phản chiếu của Mỹ. Cho đến giữa những năm 1990 năng suất/giờ của lục địa này tăng nhanh hơn Mỹ (xem biểu đồ 13), chủ yếu nhờ nhập khẩu ý tưởng đã qua thử nghiệm từ nước ngoài. Nhờ quá trình này, đến năm 1995, năng suất/giờ của Châu Âu bằng 90% mức của Mỹ. Nhưng từ đó tốc độ ở Châu Âu chậm lại, và đến năm 2008 con số này giảm xuống 83%. Điều này một phần phản ánh cuộc cải cách thị trường lao động vốn đưa thêm công nhân kỹ năng thấp vào lực lượng lao động. Đó dường như là cái giá phải trả để có tỷ lệ việc làm cao hơn. Nhưng lý do chính gây ra tình trạng năng suất đáng thất vọng của Châu Âu là lục địa này đã không thành công trong việc thúc đẩy sự gia tăng năng suất từ lĩnh vực dịch vụ.
Công trình sắp xuất bản về lịch sử tăng trưởng ở Châu Âu của Marcel Timmer và Robert Inklaar làm việc tại Đại học Groningen, Mary O’Mahony từ Đại học Birmingham và Bart Van Ark từ Conference Board, một tổ chức nghiên cứu kinh doanh, phân tích tỉ mỉ số liệu về từng nước và từng ngành, và nhận thấy sự khác biệt đáng kể giữa các nước Châu Âu. Phần Lan và Thụy Điển đạt được tiến bộ về tăng trưởng năng suất trong khi Italia và Tây Ban Nha đặc biệt trì trệ. Kết quả giữa các lĩnh vực của Châu Âu cũng khác nhau; ví dụ, ngành viễn thông là một điểm sáng. Nhưng nói chung, so với Mỹ, các công ty Châu Âu đầu tư tương đối ít vào dịch vụ và quy phạm kinh doanh cải tiến. Một nghiên cứu mới của McKinsey cho thấy, khoảng 2/3 sự khác biệt về tăng trưởng năng suất giữa Mỹ và Châu Âu giai đoạn 1995 và 2005 có thể được giải thích bằng khoảng cách trong “dịch vụ địa phương”, như dịch vụ bán lẻ và bán buôn.
Thị trường dịch vụ của Châu Âu nhỏ hơn của Mỹ, manh mún dọc theo đường biên giới quốc gia và chịu nhiều điều chỉnh. OECD đã theo dõi quy định về thị trường sản phẩm và dịch vụ ở các nước Châu Âu từ năm 1998. Tổ chức này tiến hành đo mức độ kiểm soát nhà nước, rào cản đối với cạnh tranh và những trở ngại khi bắt đầu một công ty mới, áp dụng thang điểm từ 0 đến 6 cho từng thị trường (điểm 0 là ít trở ngại và hạn chế nhất). Nói chung, mức độ quản lý sản phẩm giảm trong giai đoạn 1998-2008, và sự khác biệt giữa các nước cũng giảm bớt. Mỹ và Anh cùng nhau đạt mức điểm tốt nhất 0,84. Điểm trung bình của EU là 1,4. Nhưng khi xét đến các dịch vụ, sự khác biệt lớn hơn và Châu Âu đạt được ít tiến bộ hơn.
Trong dịch vụ chuyên nghiệp, điểm của OECD dành cho Châu Âu cao hơn 2 lần so với Mỹ (điều này nghĩa là mức độ hạn chế cao gấp đôi). Như lưu ý trong báo cáo của McKinsey, nhiều nước Châu Âu ban hành rất nhiều quy định chống cạnh tranh. Thù lao trả cho kiến trúc sư và luật sư ở Italia và Đức bị điều chỉnh với giá trần và giá sàn. Công chứng viên ở Pháp, Tây Ban Nha và Hy Lạp, và dược sĩ ở Hy Lạp bị cấm quảng cáo dịch vụ của họ. Những quy định như vậy đã hạn chế khả năng cạnh tranh giành thị phần của những “lính mới có năng lực”, bảo hộ kẻ đương chức, và làm tăng chi phí trong toàn bộ nền kinh tế.
Tại Nhật Bản tăng trưởng năng suất giảm sau khi bong bóng tài sản vỡ vào đầu những năm 1990. Một lý do, như phần đầu của báo cáo này đã mô tả, là thất bại trong giải quyết dứt điểm các khoản nợ xấu của các ngân hàng, một động thái “ủng hộ” các công ty thua lỗ đang sống dở chết dở chứ không phải buộc các công ty này thanh toán mọi khoản nợ và chấm dứt hoạt động. Điều này có nghĩa là có ít hơn lượng vốn sẵn có để cho các công ty mới thành lập vay. Khác với các nhà sản xuất đẳng cấp thế giới của Nhật Bản, lĩnh vực dịch vụ của nước này manh mún và được bảo hộ trước sự cạnh tranh từ nước ngoài và chịu nhiều điều chỉnh, do vậy, lĩnh vực này không nắm bắt được những tiến bộ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin.
Trong nhiều năm Nhật Bản đã liên tục nỗ lực cải cách pháp lý, từ tự do hóa thị trường năng lượng và ngành điện thoại di động giữa những năm 1990 cho đến tự do hóa lĩnh vực tài chính vào cuối những năm 1990. Những nỗ lực này đã mang lại một số kết quả. Tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp, không giống Châu Âu, bắt đầu tăng sau năm 2000. Nhưng cùng với tình trạng đầu tư yếu kém, các cuộc cải cách này còn quá khiêm tốn để đưa đến sự thay đổi mang tính quyết định trong triển vọng năng suất của Nhật Bản.
Hãy học người Thụy Điển
Thụy Điển đưa ra bài học đáng khích lệ hơn. Sau sự sụp đổ của ngành ngân hàng đầu những năm 1990, Thụy Điển không chỉ sắp xếp gọn ghẽ các ngân hàng nước này một cách nhanh chóng mà còn bắt đầu chương trình bãi bỏ triệt để quy định kinh tế vi mô. Chính phủ nước này cải cách hệ thống thuế và lương hưu và tự do hóa toàn bộ các lĩnh vực của nền kinh tế từ hàng không, viễn thông và điện lực đến ngân hàng và bán lẻ. Nhờ những cuộc cải cách như vậy, theo Viện Toàn cầu McKinsey, tăng trưởng năng suất của Thụy Điển, trung bình đạt 1,2%/năm giai đoạn 1980-1990, tăng lên mức ấn tượng 2,2%/năm giai đoạn 1991-1998, và 2,5% giai đoạn 1999-2005.
Các nhà bán lẻ Thụy Điển đạt kết quả đặc biệt ấn tượng. Năm 1990, McKinsey nhận thấy rằng, năng suất của các nhà bán lẻ Thụy Điển thấp hơn 5% so với các nhà bán lẻ Mỹ, chủ yếu vì một loạt các quy định đảm bảo rằng các cửa hàng nhỏ hơn nhiều và sự cạnh tranh ít gay gắt hơn. Luật địa phương hạn chế việc tiếp cận quyền sử dụng đất đai để xây dựng cửa hàng lớn, các nhà bán lẻ hiện tại thông đồng về giá và các chuỗi cửa hàng hiện có buộc các nhà cung cấp tẩy chay đối thủ cạnh tranh giá thấp hơn. Nhưng năm 1992 những đạo luật này đã được thay đổi nhằm làm suy yếu những hạn chế về sử dụng đất đai, bên cạnh đó việc Thụy Điển gia nhập EU cùng với việc thiết lập cơ quan mới về quản lý cạnh tranh đã làm gia tăng áp lực cạnh tranh. Các cửa hàng lớn và chuỗi liên kết dọc nhanh chóng chiếm thị phần. Đến năm 2005, năng suất bán lẻ của Thụy Điển cao hơn Mỹ 14%.
Việc tái cơ cấu dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng là một câu chuyện thành công. Sự hợp nhất chủ yếu do cuộc khủng hoảng tài chính và do việc gia nhập EU làm tăng mức độ cạnh tranh. Những người chơi mới quy mô nhỏ tung ra sản phẩm cải tiến như dịch vụ ngân hàng qua điện thoại và internet, những sản phẩm sau đó lan rộng đến những ngân hàng lớn hơn. Nhiều chi nhánh phải đóng cửa, và đến năm 2006 Thụy Điển có 1 trong những mật độ chi nhánh thấp nhất ở Châu Âu. Giai đoạn 1995-2002 năng suất ngân hàng tăng 4,6%/năm, nhanh hơn nhiều so với các nước Châu Âu khác.
Toàn bộ điều này cho thấy rằng đối với nhiều nước giàu con đường nhanh nhất để đẩy nhanh tăng trưởng năng suất sẽ là lợi dụng khủng hoảng để bãi bỏ quy định đối với lĩnh vực dịch vụ. Nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Trung ương Pháp và OECD phân tích 20 lĩnh vực ở 15 nước OECD giai đoạn 1984-2007, nhận thấy rằng việc cắt giảm quy định đối với các dịch vụ mạng lưới có tác động đáng kể không chỉ đối với năng suất trong những lĩnh vực này mà còn đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Lôgic rất đơn giản: luật sư, nhà phân phối hoặc ngân hàng có năng lực hơn sẽ cho phép các công ty trong toàn bộ nền kinh tế đạt được năng suất cao hơn. Mức gia tăng tiềm năng theo tính toán của Ngân hàng Trung ương Pháp thực sự gây sửng sốt. Việc loại bỏ mọi yếu tố giá, sự thâm nhập thị trường và những quy định khác về hạn chế cạnh tranh sẽ thúc đẩy tăng trưởng hàng năm năng suất các nhân tố tổng hợp thêm 1 điểm phần trăm trong nước điển hình.
Việc loại bỏ toàn bộ quy định chống cạnh tranh là không thể, nhưng thậm chí mục tiêu khiêm tốn hơn của việc theo đuổi “quy phạm tốt nhất” sẽ mang lại lợi ích to lớn. IMF tính toán rằng nếu các nước có thể cắt giảm quy định xuống mức trung bình của 3 nước OECD có mức hạn chế thấp nhất, tăng trưởng năng suất hàng năm của Mỹ sẽ tăng khoảng 2 điểm phần trăm, khu vực đồng euro tăng 0,3 điểm phần trăm, và Nhật Bản tăng 0,6 điểm phần trăm. Mức tăng lớn hơn của Châu Âu và Nhật Bản phản ánh mức độ bãi bỏ quy định còn lại phải thực hiện. Trong cả 2 trường hợp, mức tăng năng suất đạt được từ việc chuyển sang quy phạm tốt nhất sẽ loại bỏ cản trở tăng trưởng do nhân khẩu học bất lợi gây ra.
|

|
Thậm chí ở Mỹ cũng có những ích lợi. Nhưng chao ôi, con lắc pháp lý đang di chuyển về hướng ngược lại khi chính quyền của Tổng thống Barrack Obama áp đặt thêm quy định đối với các ngành từ chăm sóc y tế đến tài chính. Đến nay thiệt hại có thể được hạn chế. Rất nhiều trong số những thay đổi pháp lý của ông Obama, từ yêu cầu hiệu quả nhiên liệu cao hơn đến kiềm chế khoan dầu ngoài biển sâu, đang mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và môi trường chứ không phải kiềm chế cạnh tranh và bảo vệ những người đang giữ chức vụ. Một số ý tưởng của Nhà trắng như cải tổ truy cập internet băng thông rộng, thực tế sẽ làm gia tăng mức độ cạnh tranh. Mối nguy lớn nhất nằm ở tài chính, lĩnh vực mà những quy định mới của Mỹ có thể cản trở cải tổ.
Một vài mẫu tiêu biểu
Đất nước hiểu được thách thức của việc bãi bỏ quy định một cách mạnh mẽ nhất là Hy Lạp, một đất nước mà cuộc khủng hoảng nợ đã giúp mang lại danh tiếng “quản lý kinh tế vĩ mô yếu kém”. Dưới sức ép của IMF và các nước Châu Âu, chính phủ Hy Lạp đã bắt đầu một trong những cuộc cải cách triệt để nhất trong lịch sử hiện đại là nâng cao tiềm năng năng suất.
Lại một lần nữa, việc này bao gồm tự do hóa lĩnh vực dịch vụ vốn yếu kém. Đến nay chiến trường chính là hoạt động chuyên chở bằng xe tải. Trước khi Hy Lạp chìm sâu vào khủng hoảng, các tài xế xe tải của nước này mong muốn có giấy phép đặc biệt, và không một ai được cấp trong nhiều thập niên. Do vậy, một giấy phép trao tay ở thị trường thứ cấp có giá khoảng 300.000 euro, đẩy chi phí vận chuyển đường bộ ở Hy Lạp lên mức cao hơn. Nhưng theo cuộc cải cách mà chính phủ Hy Lạp vừa thông qua gần đây, số giấy phép dự định tăng gấp đôi. Tài xế xe tải Hy Lạp đã đình công phản đối, nhưng chính phủ không có chuyển biến gì. Luật sư và dược sĩ cũng ủng hộ việc bãi bỏ quy định.
Nếu Hy Lạp có thể theo đuổi kế hoạch của mình, nước này sẽ, giống như Thụy Điển, cho thấy rằng khủng hoảng có thể mang lại cơ hội giá trị. Nếu rơi vào tình trạng vỡ nợ và những điều kiện liên quan đến sự cứu trợ tài chính, các nhà lãnh đạo Hy Lạp không thể tập trung quyết tâm chính trị cần thiết.
Tiến trình cải cách trì trệ ở đâu đó nhấn mạnh điểm này. Đức, xếp thứ 25 trong số 30 nước OECD về tính phức tạp của hệ thống giấy phép và chứng chỉ, bắt đầu tiến hành bãi bỏ quy định một cách thận trọng: gần đây đã cắt giảm những hạn chế về việc đưa ra mức thù lao của kiến trúc sư.
Hai nhà kinh tế học người Pháp, Jacques Delpha và Charles Wyplosz, đã tranh luận rằng những người cung cấp dịch vụ nên được trả tiền thay vì phải chấp nhận cạnh tranh. Họ cho rằng việc đền bù cho tài xế taxi Pháp do việc bãi bỏ quy định có thể tiêu tốn 4,5 tỷ euro. Nhưng việc đền bù cho những người thất bại vì cải cách có thể không nhiều như vậy.
Việc tăng cường hợp nhất Châu Âu thể là một cách khác để hạn chế phản đối với việc bãi bỏ quy định. Như Mario Monti, cựu cao ủy cạnh tranh EU, đã chỉ ra trong hành động kêu gọi gần đây, mặc dù ngành dịch vụ đóng góp 70% GDP của EU, nhưng chỉ 20% số dịch vụ đó có tính chất xuyên biên giới. Chỉ thị Dịch vụ của EU, vốn được đưa ra nhằm tăng tính cạnh tranh xuyên quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ, đã chứng minh không có hiệu quả.
Chính phủ có thể hỗ trợ như thế nào
Chủ nghĩa tích cực nhân danh chính phủ không phải luôn luôn sai lầm trong hành động. Đầu tư của họ vào nghiên cứu cơ bản rất quan trọng. Ví dụ, tiền trợ cấp được Viện Y tế quốc gia Mỹ phát nhỏ giọt gây ra một ý tưởng bất công rằng các công ty dược phẩm biến thành dược phẩm sinh lời. Bộ Quốc phòng Mỹ đã tạo ra phần bắt đầu của internet. Chi tiêu công cho xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng cũng có ý nghĩa quan trọng, mặc dù các nhà kinh tế học đang tranh luận xem là bao nhiêu. Chính phủ các nước có thể khuyến khích chi tiêu tư nhân dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) với ưu đãi về giãn thời gian nộp thuế và trợ cấp, và bằng chứng cho thấy rằng chi tiêu cho R&D nhiều hơn nói chung thúc đẩy tăng trưởng. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng các công ty mà chi nhiều hơn cho R&D cũng thường tiếp nhận cải tiến mới nhanh hơn.
Nhưng những cách khuyến khích cải tiến truyền thống này có thể ít thích hợp hơn và hiện nay các nghiên cứu đã mang tính toàn cầu và tập trung nhiều hơn vào phần mềm so với phần cứng. Từ giữa những năm 1990, riêng Trung Quốc chiếm 1/3 sự gia tăng chi tiêu toàn cầu về nghiên cứu và phát triển. Các công ty lớn duy trì thiết bị nghiên cứu ở nhiều nước. Việc đưa ra sản phẩm và dịch vụ mới, cũng như các cách thức tốt hơn để sản xuất sản phẩm cũ, ngày càng đòi hỏi sự hợp tác xuyên biên giới và giữa các công ty. Như ông Jorgenson từ Đại học Harvard viết: “Hãy nghĩ về Google, chứ không phải những chiếc áo trắng trong phòng thí nghiệm”.
Trong thế giới thay đổi thường như thế này, những hình thức khuyến khích cũ của chính phủ như cho phép chậm nộp thuế và trợ cấp có thể làm được ít hơn trong việc thúc đẩy cải tiến so với khuyến khích giàu tưởng tượng hơn, như trao cho các công ty các giải thưởng về cải tiến đột phá. Những nỗ lực lớn hơn để loại bỏ những rào cản hiện tại đối với hợp tác, từ hạn chế di cư của công nhân lành nghề đến những quy định sử dụng đất quá cứng nhắc cũng sẽ giúp ích.
Nói tóm lại, một chương trình cải tổ khôn ngoan sẽ khá khác biệt so với chương trình mà chính phủ các nước giàu nhất dường như ủng hộ. Dường như sự ủng hộ nghiêng về việc tự do hóa thị trường nhiều hơn so với tôn vĩnh những người chiến thắng; nhiều hơn về việc tạo ra điều kiện thuận lợi cho những ý tưởng đột phá hơn là những lời hứa về những điều như việc làm mới. Tuy nhiên, việc theo đuổi chính sách như vậy đòi hỏi lòng can đảm và tầm nhìn - và hầu hết các nền kinh tế giàu vẫn chưa cho thấy có đủ 2 yếu tố này.
Người dịch Hữu Thanh
GafinAnalysis & ResearchUnit(GARU)